Tiếng việt:
Mỗi dòng họ chọn cho mình một thung lũng vừa đủ cho năm chục đến một trăm bếp đỏ lửa trong chục, vài chục nóc nhà dài. Xa xa, có những quả đồi, quả núi và gần hơn có dòng sông, dòng suối giúp họ sinh sống ngày ngày ... Thung lũng Pờ Nghi (Parnghi) - A Ngo (Ango) là một trong những địa bàn cư ngụ của dòng họ Kê - một trong những dòng họ cố xưa của dân tộc Tà Ôi (Ta Ôi, Ta Oos).
Như thường lệ, Kê Doải (Kê Yoaiq) đeo chiếc gùi nhỏ chạy ra bãi sông để tắm rửa sau khi theo mẹ lên rẫy làm cỏ đầu vụ lúa Ra Dư (rayư), lên rừng hái rau măng mùa mưa xuân mát ấm nồng nàn... Lạ, hôm nay, có gì mà đông người tụ tập bên mô đá Le-cô (Lkoo, đá gù) thế nhi?! Kê Doải đến gần, thấy anh Cu Gian (Ku Jan) đang bảo Cu Lai (Ku Lai) nằm ngửa trên mô đá Le-cô, ba người khác giữ chặt đầu, ngồilên bụng và chân... Căn Bo-an (Kăn Boal) gọi Kê Doài và bảo:
- Kê Doải có muốn cà răng không?
- Để làm chi?
- Để làm người lớn.
Nghĩ Căn Bo-an và nhiều người cũng trạc tuổi mình, mà cái điều Kê Doải tò mò là "làm người lớn", nên cô bé hí hửng đồng ý ngay. Đêm về, cô bé không tài nào ngủ được, đau buốt ở các vết răng bị cà. À, người ta cà răng là như vậy, cô bé nhớ từng chi tiết...
Anh Cu Gian là trai khỏe của làng, anh đã có vợ và luôn là điểm tựa của già làng, chủ làng khi có biến cố. Anh cầm một thanh nao (dao nhỏ có cán băng trúc hoặc dao làm bằng lá tranh) nhẹ nhàng đặt lên một phần ba của mỗi chiếc răng tính từ ngọn răng vào, liếc qua trái rồi qua phải cho đến khi đứt lìa. Anh liếc 6 chiếc răng cửa hàm trên trước rồi đến 6 chiếc hàm dưới, mồ hôi nhễ nhãi nhưng miệng vẫn nói cười, pha trò để tạo không khí thoải mái, cốt là giúp người bị cà răng giảm bớt đau đớn. Xong, anh Cu Gian đỡ Kê Doải ngồi dậy, cho một ngụm nước ấm từ trong lóng cây nứa đã chuẩn bị sẵn. Có phép mầu hay sao mà khi được ngụm nước đó, cơn đau nhức răng của Kê Doài tan biến vào không gian chiều vàng óng ả.
Sau một ống tẩu thuốc lá, Căn Đùn (Kăn Dul) mang một tô cháo loãng cho Kê Doải húp. Mà phải húp vội kẻo trời tàn, đêm xuống, người già và trẻ em ra bãi sông ngắm trăng, soi ếch, cá, mò cua... nhỡ thấy cảnh cà răng của tốp chuẩn bị "làm người lớn" thì mất thiêng.... Nhớ đến đây thì đêm cũng đã tàn rồi, gà trống đứng chuồng của nhà mình cũng đã cất tiếng gọi ngày mới, Kê Doải co người trùm kín trong chiếc váy làm chăn để bòn giấc yên của đêm đầu tiên được cà răng.
Chiều hôm đó, Kê Doải và mẹ đi rẫy về muộn. Căn Đùn đã đợi trước cửa nhà. Kê Doải mới sực nhớ là đến hẹn đi nhuộm răng rồi. Thả vội gùi, Kê Doải lon ton theo sau Căn Đùn ra bãi sông, nơi có mô đá Le-cô, những người được cà răng hôm ấy đều đã có mặt. Căn Bo-an cầm trên tay một lóng nứa có nước và một bông gạc tươi vừa hái từ cây bông về, bảo mọi người ngồi yên, ngửa mặt, há miệng để nhuộm răng. Nước nhuộm vừa chạm môi, chấm răng, nghe thấy chát, đắng, khô họng, song ai nấy đều yên như pho tượng gỗ vừa đục đẽo thành hình hài tín ngưỡng. Căn Bo-an nói, làm được nước nhuộm đen răng, lâu phai, không phải dễ, phải vào rừng sâu mới tìm thấy cây rỏi (Ân Đon Ân Nề - ndong nneéh) đủ già, lóc vỏ cây mang về phơi một, hai nắng cho dẻo mới chắt tinh dầu và phải tìm chặt lấy những lóng nứa chứa nước tự nhiên sau mùa mưa.
Và, là con gái, các chị lớn trong làng còn bảo, phải sâu tai; khi muốn "làm người lớn" thì phải căng tai... Một buổi trưa râm ran ong bướm về hút mật hoa bưởi bên đầu hồi nhà dài thân thuộc, Kê Doải được chị họ dùng gai bưởi sâu tai cùng vòng sợi chỉ mảnh rồi lấy nước rễ tranh thấm rửa cho đỡ sưng tấy, khỏi bị nhiễm trùng. Cô bé mừng thầm rằng mình sẽ được đeo tằm (Si Căm - sikăm) bằng bạc rồi lại còn được đeo hoa tai (Ti Toi - titoi) - những thứ mẹ cô luôn nói là dành cho con gái xinh đẹp.
- Ôi, Kê Doải lạ lắm, xinh lắm, má mọng hồng trên làn da trắng mịn, với hàm răng đen nhánh, đôi mắt huyền long lanh, đám bạn cùng trang lứa ca tụng. Kê Doải, cầm tay Căn Đùn tung tăng đến gần và đáp:
- Mô, mình xinh không bằng các bạn. Chúng ta có màu răng giống nhau và đều có bông tai.
- Kê Doải thành cô gái xinh nhất làng rồi.
- Mô, mẹ mình nói, mình mới nhìn thấy 13 vụ mùa Ra Dư thôi. Căn Đùn 15 vụ mùa Ra Dư rồi, xinh đẹp nhất làng ta.
Tất cả cùng phá lên cười vui vẻ. Kê Doải nhìn ra bãi đất trồng, cạnh dòng sông quen thuộc, có nhiều đá cuội, đá trắng thì nảy ý mời các bạn chơi trò tung đá (Tâm pô a mo - tampôl amo). Đội chơi 10 người, bốc thăm bằng những que cỏ bẻ kích thước khác nhau, từ 1 đến 10. Ai bốc được que dài nhất thì tung đá và nhặt đá trước, cho đến khi tung đá mà không kịp nhặt đá thì kết thúc phiên mình và tính đến phiên người thứ hai, thứ ba, thứ tư... thứ 10... cứ thể vòng lại.
- Ông mặt trời cúi mặt xuống đất rồi, ta đi tắm để về nhà dệt thổ cẩm thôi.
- Đi tắm, các bạn đồng thanh hưởng ứng.
Trong nhiều trò chơi tập thể do Kê Doài khởi xướng, có trò thi dệt thổ cẩm đẹp dành cho các thiếu nữ, theo một chủ đề nhất định. Lúc thì dệt khăn cho người già, lúc thì dệt khố cho trẻ em, lúc chỉ dệt mỗi hoa văn Pì Chôn (pir Chônh - hoa nhài) hoặc Pì Pang (pir pang - hoa mua), ... Cuộc thi nào, cô cũng đều tỏ ra nổi trội và trở thành người đi đầu trong tốp nữ chỉ dẫn bạn bè.
Kê Doải nổi tiếng là cô bé hiếu thảo, thông minh, chăm chỉ, được mọi người trong làng yêu quý, các bạn cùng trang lứa tin tưởng, mến mộ. Càng thêm tuối cô càng xinh đẹp và giỏi giang. Dệt thổ cẩm rất đẹp. Nhiều trai làng nhòm ngó, mơ tưởng. Nhưng ở tuổi cô và với cô, mẹ là bầu trời, là mặt đất, là giấc ngủ,... Cô làm lụng mọi việc theo sức nhỏ sức bé của mình để cho mẹ bớt gánh nặng việc gia đình. Cô chưa thể hình dung việc "làm người lớn" là như thế nào...
Each clan chose for itself a valley just large enough for fifty to one hundred hearths burning in clusters of ten to several dozen long houses. In the distance were hills and mountains, and closer by were rivers and streams that sustained their daily lives… The Pờ Nghi (Parnghi) – A Ngo (Ango) valley was one of the residential areas of the Kê clan—one of the ancient lineages of the Tà Ôi people (Ta Ôi, Ta Oos).
As usual, Kê Doải (Kê Yoaiq) carried her small basket and ran to the riverbank to bathe after following her mother to the fields to weed the early Ra Dư (rayư) rice crop and going into the forest to gather vegetables and bamboo shoots during the warm, lush spring rains.
Strangely, why were so many people gathered around the Le-cô rock (Lkoo, the humped rock) today? Curious, Kê Doải came closer and saw Cu Gian (Ku Jan) telling Cu Lai (Ku Lai) to lie on his back on the rock, while three others held his head, sat on his stomach, and restrained his legs.
Căn Bo-an (Kăn Boal) called her over and asked:
“Do you want to have your teeth filed?”
“What for?”
“To become an adult.”
Thinking that Căn Bo-an and many others were about her age, and curious about “becoming an adult,” Kê Doải eagerly agreed. That night, she could not sleep at all because of the sharp pain in her filed teeth. Ah, so this is what tooth filing feels like—she remembered every detail…
Cu Gian was one of the strongest men in the village. He already had a wife and was always a pillar of support for the village elders and leaders in times of trouble. He held a small blade (a knife with a bamboo handle or one made from thatch leaves) and gently placed it about one-third down from the tip of each tooth, slicing from left to right until each piece broke off. He filed the six upper front teeth first, then the six lower ones. Sweat poured down his face, yet he kept talking and joking to ease the pain of the person undergoing the ritual.
When finished, Cu Gian helped Kê Doải sit up and gave her a sip of warm water from a bamboo tube prepared beforehand. As if by magic, after that sip, the throbbing pain in her teeth faded into the golden glow of the evening.
After a pipe of tobacco, Căn Đùn (Kăn Dul) brought her a bowl of thin porridge. She had to sip it quickly before nightfall, because when darkness came, the elderly and children would go to the riverbank to watch the moon, catch frogs and fish, and gather crabs… If they happened to see the group preparing to “become adults,” it would lose its sacredness…
Thinking of this, the night passed. The rooster in her house crowed to greet the new day. Kê Doải curled up, covering herself with her skirt like a blanket, trying to hold on to the last moments of sleep after her first night of having her teeth filed.
That afternoon, Kê Doải and her mother returned late from the fields. Căn Đùn was already waiting at the door. Only then did Kê Doải remember—it was time to dye her teeth. She quickly dropped her basket and followed Căn Đùn to the riverbank, where the Le-cô rock stood. Everyone who had filed their teeth that day was already there.
Căn Bo-an held a bamboo tube containing dye and a fresh cotton pad just picked from the cotton plant. She told everyone to sit still, tilt their heads back, and open their mouths for the dyeing. As the dye touched their lips and teeth, it tasted bitter, astringent, and dried the throat, yet everyone remained motionless like wooden statues carved for ritual worship.
Căn Bo-an explained that making long-lasting black tooth dye was not easy. One had to go deep into the forest to find a mature rỏi tree (Ân Đon Ân Nề – ndong nneéh), peel its bark, dry it under the sun for one or two days until it softened, then extract its oil. One also had to collect bamboo tubes naturally filled with water after the rainy season.
And as a girl, the older sisters in the village said that ear piercing was also necessary; when one wanted to “become an adult,” one must stretch the ears. One midday, as bees and butterflies buzzed around the pomelo blossoms at the end of the familiar long house, Kê Doải had her ears pierced by her cousin using a pomelo thorn and a thin thread loop. Then the roots of cogon grass were used to wash the wound to reduce swelling and prevent infection. She secretly felt happy that she would soon be able to wear silver ear ornaments (Si Căm – sikăm) and earrings (Ti Toi – titoi)—things her mother always said were for beautiful girls.
“Oh, Kê Doải looks so different—so beautiful! Rosy cheeks on smooth white skin, with shiny black teeth and sparkling eyes,” her friends of the same age praised. Holding Căn Đùn’s hand, she replied playfully:
“No, I’m not more beautiful than you. We all have the same tooth color and wear earrings.”
“Kê Doải has become the most beautiful girl in the village!”
“No, my mother says I’ve only seen 13 Ra Dư harvests. Căn Đùn has seen 15—she is the most beautiful.”
They all burst into cheerful laughter. Looking out over the fields near the familiar riverbank, scattered with pebbles and white stones, Kê Doải suggested a game of stone tossing (Tâm pô a mo – tampôl amo). Ten players would draw lots using grass sticks of different lengths from 1 to 10. Whoever picked the longest stick would go first, tossing a stone and picking others up. If they failed to pick them up in time, their turn ended, and it moved on to the next player, and so on in rotation.
“The sun is setting—we should go bathe and then return home to weave brocade.”
“Let’s go bathe!” everyone agreed.
Among the many group games initiated by Kê Doải was a brocade-weaving contest for young girls based on specific themes—sometimes weaving scarves for the elderly, sometimes loincloths for children, or focusing only on patterns like Pì Chôn (pir Chônh – jasmine) or Pì Pang (pir pang – wildflower). In every contest, she stood out and became a leading figure guiding her peers.
Kê Doải was known as a filial, intelligent, and hardworking girl, loved by everyone in the village and admired by her peers. As she grew older, she became more beautiful and skillful, especially in weaving brocade. Many young men admired her from afar.
But at her age, to her, her mother was the sky, the earth, and her dreams. She worked hard in every way she could to ease her mother’s burdens. She still could not truly understand what it meant to “become an adult”…